Điện mặt trời nổi: Công nghệ hứa hẹn của tương lai

Với gần ba phần tư hành tinh của chúng ta được bao phủ bởi nước, trong khi ngày càng có nhiều người sống và ăn ở trên những vùng đất đang trở nên khan hiếm, thì việc sử dụng mặt nước của chúng ta để sản xuất điện sạch sẽ là một ý tưởng tuyệt vời.

Một ý tưởng hoàn hảo?

Trên thị trường thế giới hiện nay mới chỉ có một số ít các công ty đang tập trung vào thị trường điện mặt trời nổi.

Trong bài báo này, chúng ta sẽ khám phá những quốc gia nơi điện mặt trời nổi nổi đang cất cánh, những nhà phát triển chính và các công nghệ khác nhau của họ, cũng như những thuận lợi và ý nghĩa của việc lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời trên bề mặt nước.

Theo ông Yossi Fisher, Giám đốc điều hành của Solaris Synergy, người tiên phong trong lĩnh vực điện mặt trời nổi: “Thị trường điện mặt trời nổi là một thị trường mới đang phát triển. Có rất nhiều nơi trên thế giới không có đất cho các công trình điện mặt trời, chủ yếu là các đảo như: Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Philippines và nhiều nơi khác. Nói chung chi phí sử dụng mặt nước thấp hơn nhiều so với chi phí sử dụng đất. Ngày nay đã có nhu cầu về điện mặt trời nổi tại Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Úc, Brasil, Ấn Độ và các nước khác. Nhu cầu này dự kiến ​​sẽ tăng và sẽ lan rộng ra khắp thế giới “.

Có một sự kết hợp tuyệt vời của điện mặt trời nổi với các đập thủy điện do cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như lưới điện, đội ngũ nhân công, đường xá, đã có sẵn.

“Nổi” và “trên mặt đất” – hệ thống nào sản sinh ra nhiều điện hơn?

Các hệ thống điện mặt trời được lắp đặt trên bề mặt nước được hưởng lợi từ nhiệt độ môi trường thấp hơn đáng kể do tác động bay hơi, làm mát của nước. Các khung nhôm chắc chắn cũng truyền nhiệt độ mát hơn từ nước, làm giảm nhiệt độ tổng thể của các mô-đun.

Tuy nhiên, lợi thế hiệu suất thực tế so với lắp đặt trên mặt đất có vẻ như thay đổi do rất nhiều yếu tố.

Nghiên cứu do Tổng công ty Tài nguyên nước Hàn Quốc tiến hành đã chỉ ra rằng các hệ thống điện mặt trời nổi có hiệu suất vượt trội so với các hệ thống điện mặt trời tiêu chuẩn được lắp đặt trên mặt đất là 11%. Đó quả là một sự khác biệt đáng kể.

Một nghiên cứu đáng chú ý khác đang được tiến hành là Nghiên cứu so sánh Hệ điện mặt trời nổi của Viện nghiên cứu năng lượng mặt trời Singapore (SERIS).

Chính phủ Singapore đang tiến hành một nghiên cứu so sánh lớn nhất từ trước tới nay giữa các hệ thống điện mặt trời nổi được quản lý bởi SERIS. Dự án trị giá 11 triệu đô la này sẽ được tổ chức thành hai giai đoạn trong thời gian 4 năm, và trong giai đoạn một, bắt đầu từ năm 2015, sẽ triển khai 10 hệ thống điện mặt trời nổi, mỗi hệ thống có công suất khoảng 100 kWp. Giai đoạn hai, bắt đầu sau khi các hệ thống của giai đoạn một đã được thử nghiệm tương đối trong vài tháng, và sẽ mở rộng thêm 2-3 MWp khác.

Làm thế nào khi có sóng và gió mạnh?

Hệ thống điện mặt trời nổi chắc chắn sẽ bị di chuyển theo sóng và gió mạnh. Hệ thống điện mặt trời nổi cần phải có khả năng chịu đựng được những sức mạnh tác động của thiên nhiên.

Làm thế nào để hệ thống năng lượng mặt trời nổi chịu được sóng to và gió mạnh?

Công nghệ năng lượng mặt trời nổi của Ciel & Terre được gọi là Hydrelio © được thử nghiệm bởi ONERA (phòng thí nghiệm vũ trụ của Pháp) để chịu được sức gió lên đến 190 km/h (118mp/h). Cấu trúc cáp của Solaris Synergy cũng có thể chịu được các cơn gió ở cấp độ bão.

Một chiếc phao nổi khác được phát triển bởi Infratech Industries Inc có thể chịu được mực nước thay đổi tối đa là 10 mét và cột sóng cao nhất là 2 mét.

Làm thế nào để các hệ thống điện mặt trời nổi được trên biển?

Với hơn ba phần tư bề mặt trái đất được bao phủ bởi nước, một câu hỏi hợp lý sẽ là triển khai các hệ thống năng lượng mặt trời nổi trên biển. Liệu điều này có khả thi?

Solaris Synergy nhận xét:

“Hệ thống nổi của chúng tôi có thể chịu được cột sóng lên đến 2 mét, và có thể được lắp đặt trong đầm phá hoặc vịnh.Vấn đề ngày nay với nước mặn là các nhà sản xuất tấm pin mặt trời chưa sẵn sàng để cung cấp bảo hành cho việc lắp đặt trong khu vực nước mặn.

Nếu các nhà sản xuất tấm pin mặt trời chưa sẵn sàng cung cấp sự đảm bảo khắt khe cho các tấm pin lắp đặt trên biển, chúng ta có thể dùng các tấm pin “chuyên dụng cho quân đội” cho các dự án trên biển, hoặc hạn chế việc lắp đặt các hệ thống điện mặt trời nổi chỉ trên các hồ nước ngọt”.

Những ảnh hưởng của nước mặn trên các tấm pin mặt trời là gì?

Người ta biết rằng, rỉ sét kim loại do sương muối có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của các tấm pin mặt trời được lắp đặt gần bờ biển.

Các nhà sản xuất hiện nay cũng cung cấp một chứng nhận đặc biệt chứng minh rằng họ có thể sản xuất các tấm pin có thể chịu được sự ăn mòn sương muối theo các tiêu chuẩn cụ thể. Tiêu chuẩn ăn mòn sương muối này là IEC 61701.

Như chúng ta biết về những sai sót và những khó khăn liên quan đến bảo hành tấm pin mặt trời, các chi tiết hợp đồng bảo hành rất khác nhau và thường dễ bị vô hiệu nếu các tấm pin không được xử lý và lắp đặt theo đúng điều kiện bảo hành.

Bất cứ thứ gì được lắp đặt trên biển đều cần phải có khả năng chống ăn mòn và dường như hầu hết các nhà sản xuất pin năng lượng mặt trời tiêu chuẩn vẫn chưa hoàn toàn tự tin để bảo hành cho các tấm pin mặt trời lắp đặt trên biển.

Trong thực tế hầu hết các chính sách bảo hành tấm pin năng lượng mặt trời không bao gồm các tấm pin ‘có tiếp xúc với ăn mòn’. Dưới đây là một trích dẫn ví dụ từ chính sách bảo hành của Trina Solar:

“Bảo hành có giới hạn” không áp dụng đối với bất kỳ sản phẩm nào có điều kiện môi trường khắc nghiệt hoặc bị ăn mòn, oxy hoá”.

Những nhà cung cấp hệ thống điện mặt trời nổi trên thị trường là ai?

1/ Solaris Synergy

Công nghệ độc quyền của Solaris Synergy khác với hầu hết các giải pháp nền tảng nổi trên thị trường. Thiết bị nổi của nó đã đạt được một chi phí tương đương với các hệ thống giá đỡ lắp trên mặt đất.

Hệ thống độc quyền dựa trên nền tảng lưới của công ty Solaris Synergy cho phép các tấm pin điện mặt trời trôi nổi độc lập với nhau trong khi vẫn duy trì cấu hình hình học được xác định trước bằng hệ thống cáp căng được kết nối hình mạng nhện và được hỗ trợ bởi một hệ thống trụ nổi cứng.

Hãy tưởng tượng một cấu trúc tương tự như một cây vợt tennis, nơi mà các cạnh cứng là khung của cây vợt, và lưới của dây căng là các dây của vợt chạy theo chiều dọc và chiều rộng. Trong các hình vuông được hình thành bởi các dây căng chéo qua – các tấm pin mặt trời được đặt và được néo lỏng lẻo vào các góc của hình vuông bằng dây cáp.

Hệ thống dựa trên Grid-Solaris-Synergy

Hệ thống nổi dạng lưới của Solaris Synergy. Nguồn: Solaris-synergy.

2/ Ciel et Terre

Hệ thống điện mặt trời nổi HYDRELIO của Ciel et Terre gồm các phao đã được cấp bằng sáng chế được biết đến nhờ khả năng lắp đặt dễ dàng. Hệ thống có thể được lắp ghép với nhau mà không cần bất kỳ công cụ gì.

3/ Kyocera

Những năm vừa qua Kyocera TCL Solar đã tung ra các hệ thống điện mặt trời nổi quy mô lớn tại Nhật Bản. Do thiếu không gian, nhưng lại phong phú về bề mặt nước chưa sử dụng, công ty đã được xây dựng một số hệ thống điện mặt trời nổi.

Hệ thống điện mặt mặt trời mới nhất,và là hệ thứ ba, có công suất lắp đặt 2,3MW, được xây dựng ở Hyogo Prefecture, Nhật Bản. Cấu trúc nổi được cung cấp bởi Ciel et Terre.

Công ty hiện đang triển khai một hệ thống khổng lồ mới có công suất 13,4MW, sẽ được đặt nổi trên một hồ chứa đập ở quận Chiba.

https://assets.rbl.ms/6640820/980x.jpg

Hệ thống điện mặt trời nổi công suất 13,7MW trên hồ Yamakura Dam tại Nhật Bản. Nguồn: Kyocera

Các công ty hoạt động trong lĩnh vực điện mặt trời nổi trên thế giới hiện nay không nhiều. Tiêu biểu gồm có: Ciel & Terre, Pháp; LG CNS: Hàn Quốc; Sunfloat: Hà Lan; Takiron Engineering: Nhật Bản; Solaris Energy: Israel; SPG Solar:, Hoa Kỳ; và Sunergy: Úc. Trong đó Ciel & Terre chiếm hơn một nửa thị phần hiện tại.

Hiện có ít nhất 100 dự án điện mặt trời nổi trên thế giới đang hoạt động trên khắp thế giới, thay đổi kích cỡ từ một vài mô hình trình diễn kW đến các dự án quy mô công suất lớn tới 40 MW. Các nước chính có các dự án điện mặt trời nổi như Trung Quốc (40MW), Nhật Bản với 56MW công suất, Anh Quốc với 10MW, Hàn Quốc với 7MW, và Mỹ với ~ 1 MW. Ngoài ra, điện mặt trời nổi cũng đang được quan tâm và có tiềm năng cho một số nước khác như Ấn Độ, Pháp, Israel, Ý, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Úc, Brazil, Việt Nam và Singapore.

Các thành phần/vật liệu được sử dụng cho các hệ thống điện mặt trời nổi là gì?

Hệ thống năng lượng mặt trời điển hình nổi (PV) bao gồm các thành phần sau:

1/ Một hệ thống nổi, bao gồm một ụ nổi hoặc phao riêng biệt:

Bè nổi – một thiết bị dạng xuồng nổi có khoang rỗng đủ để tự nổi cũng như chịu tải nặng.

Phao – thường gồm nhiều phao nhựa nổi được ghép lại, tạo thành một bè khổng lồ. Phao nổi thường được làm bằng HDPE (polyethylene-ethylene), loại vật liệu có độ bền kéo, chống tia cực tím và khả năng chống ăn mòn. Một lợi thế quan trọng của phao nổi được làm bằng HDPE là những chất này có thể được sử dụng trong các hồ chứa nước uống. HDPE thường được sử dụng để chế tạo chai sữa, ống nước, thùng nhiên liệu. HDPE cũng có thể được tái chế.

2/ Hệ thống neo, hệ thống neo đậu thường đề cập đến bất kỳ cấu trúc vĩnh cửu nào mà tàu có thể được bảo vệ. Ví dụ bao gồm bến cảng, cầu cảng, bến tàu, phao neo. Trong trường hợp của một hệ điện mặt trời nổi, hệ thống neo giữ các tấm pin ở cùng vị trí và ngăn không cho chúng bị lật hoặc trôi nổi. Việc lắp đặt một hệ thống neo đậu có thể là một thách thức và tốn kém trong điều kiện nước sâu. Không phải tất cả các công ty đều đang sử dụng hệ thống neo đậu. Ví dụ công ty Solaris Synergy của Israel không sử dụng hệ thống neo đậu, và sử dụng hệ thống lưới dựa trên bằng sáng chế của họ, đảm bảo các tấm pin mặt trời nổi được.

3/ Các tấm pin mặt trời, hiện tại các tấm pin mặt trời tiêu chuẩn được sử dụng cho các hệ thống điện mặt trời nổi được lắp đặt từ trước tới nay. Tuy nhiên, một khi các dự án được lắp đặt trên bề mặt nước mặn, hy vọng các tấm pin mặt trời chế tạo đặc biệt sẽ được yêu cầu để chống lại sự tiếp xúc lâu dài với muối. Gần như bất kỳ kim loại nào sẽ ăn mòn theo thời gian và do đó có những giải pháp thay thế cho khung nhôm tiêu chuẩn, chẳng hạn như khung polymer sau được làm từ Suntech Power, không bị ăn mòn.

4/ Dây cáp. Điện được lấy ra từ các tấm pin mặt trời và được vận chuyển đến đất. Trên mặt đất, điện có thể được nạp vào lưới, hoặc được lưu trữ trong các hệ ắc quy. Các dự án chúng tôi đã biết cho đến nay không có cáp kéo dưới nước, mà vẫn giữ dây trên mặt nước. Mặc dù không có các thành phần điện nào dưới nước, các loại cáp được kiểm định chính xác và hộp nối không thấm nước theo tiêu chuẩn IP67 rất quan trọng với các dự án điện mặt trời nổi. Các thành phần điện khác như biến tần và ắc quy vẫn được giữ “đẹp và khô” trên đất.

Điện mặt trời nổi ở Việt Nam

Tháng 3/2017, một nhà lắp đặt điện mặt trời Hàn Quốc là công ty Solkiss cũng đã tổ chức chuyến khảo sát hồ thủy điện Thác Bà tại Yên Bái để chuẩn bị xây dựng nhà máy điện mặt trời nổi.

Tại một hội thảo hồi tháng 5 năm 2017, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết đang xem xét nghiên cứu một loạt các dự án điện mặt trời ở các khu vực hồ thủy điện cho EVN sở hữu. Trong đó có một số dự án điển hình như dự án trên hồ Trị An công suất 126MW (Đồng Nai), dự án trên hồ Sê San 4 công suất 47MW (Gia Lai), và dự án trên hồ Đa Mi công suất 47.5MW (Bình Thuận). Với lợi thế về mặt diện tích bề mặt rộng lớn, hệ thống hạ tầng lưới điện và đội ngũ nhân lực sẵn có, việc đầu tư các dự án điện mặt trời nổi trên mặt hồ thủy điện là giải pháp tối ưu trong bối cảnh diện tích đất khan hiếm như hiện nay.

Về công nghệ thiết bị nổi, hiện nay Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) cũng đang phối hợp với các đơn vị khác cùng nghiên cứu hệ thống thiết bị cho các nhà máy điện mặt trời nổi bao gồm: Nghiên cứu hệ thống phao nổi, hệ thống neo; Vật liệu chế tạo phao nổi, các tiêu chuẩn, phương pháp kiểm tra độ bền cơ lý hoá, độ bền theo thời gian; Phương án sản xuất, kết nối, lắp phao tại hiện trường; Máy móc, thiết bị chế tạo, lắp đặt phao; Tính toán, thiết kế hệ thống neo, các tiêu chuẩn áp dụng vv…

ĐỖ ĐỨC TƯỞNG (TỔNG HỢP)

Tỷ lệ tổn thất của EVNNPC giảm so với cùng kỳ

Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) cho biết: Lũy kế 4 tháng đầu năm, điện thương phẩm ước tính 19.006 triệu kWh, tăng 13,29% so với cùng kỳ và đạt 29,74% kế hoạch năm 2018. Đặc biệt, tỷ lệ tổn thất điện năng lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 5,21%, giảm 0,34% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo EVNNPC, trong tháng 4/2018, đã đảm bảo cấp điện an toàn, ổn định, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn 27 tỉnh miền Bắc, đặc biệt đã cung ứng điện an toàn, liên tục cho các hoạt động nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam (30/4) và Quốc tế lao động (1/5/).

Sản lượng điện thương phẩm tháng 4 ước đạt 5.139,69 triệu kWh, tăng 10,63% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó thành phần công nghiệp xây dựng chiếm 68,19% và tăng 13,08% so với cùng kỳ, thành phần quản lý tiêu dùng chiếm 25,97% và tăng 4,05%.

Nhiều công trình lưới điện trung, hạ thế đã được NPC đóng điện, góp phần nâng cao năng lực lưới điện và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.

Lũy kế 4 tháng đầu năm, điện thương phẩm ước tính 19.006 triệu kWh, tăng 13,29% so với cùng kỳ và đạt 29,74% kế hoạch năm 2018, trong đó 2 thành phần chiếm tỷ trọng lớn là công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng 65,93%, tăng trưởng 15,25%, quản lý tiêu dùng chiếm 28,2% và tăng trưởng 8,26%.

Tháng 4, tỷ lệ tổn thất điện năng ước thực hiện đạt 4,66%, lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 5,21%, giảm 0,34% so với cùng kỳ năm 2017.

Để đảm bảo cấp điện cho mùa khô 2018 và đặc biệt là các tháng cao điểm mùa hè, EVNNPC đã đóng điện được 9 dự án, với năng lực tăng thêm 165MVA và 60km ĐZ 110kV như: Đấu nối 110kV sau TBA 220kV Phú Thọ; Cải tạo ĐZ 110kV Kim Động – Phố Cao – TP. Hưng Yên để cấp điện cho khu vực TP Hưng Yên từ TBA 220kV Kim Động; Treo dây mạch 2 ĐZ 110kV Quỳnh Lưu – Diễn Châu – Cửa Lò – Hưng Đông… và khởi công 6 dự án: Lắp MBA T2 TBA 110kV Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; ĐZ và TBA 110kV Kim Bảng – Hà Nam… cùng nhiều công trình lưới điện trung, hạ thế, góp phần nâng cao năng lực lưới điện và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.

Đặc biệt, tất cả 14 chỉ tiêu dịch vụ khách hàng đều đạt theo quy định, trong đó đã tiếp nhận và giải quyết cấp điện mới cho 166 khách hàng trung áp với thời gian bình quân là 6,12/7 ngày, giảm 0,88 ngày so với quy định. Trong tháng 4 có 42,88% khách hàng thanh toán tiền điện qua ngân hàng và tổ chức trung gian, tăng hơn so với tháng 4/2017.

Trong tháng 5, EVNNPC tiếp tục tăng cường các giải pháp đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định cho khách hàng, giảm tổn thất điện năng, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình điện, tiếp tục triển khai các hoạt động tuyên truyền sử dụng điện tiết kiệm mùa nắng nóng, hưởng ứng tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2018 của Tổng công ty Điện lực miền Bắc.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Khởi động dự án Nhà máy điện khí LNG tại Bạc Liêu

UBND tỉnh Bạc Liêu vừa tổ chức lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác phát triển dự án Nhà máy điện khí LNG trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu với Liên doanh đầu tư Energy Capital Vietnam (Mỹ).

Theo Biên bản ghi nhớ, dự án Nhà máy điện khí LNG tại Bạc Liêu do Liên doanh đầu tư Energy Capital Việt Nam làm chủ đầu tư. Quy mô công suất tối đa lên đến 3.200MW, được xây dựng trên diện tích 100 ha, dự kiến chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Hoàn thành xây dựng nhà máy điện công suất 1.000 MW, dự kiến khởi động trong năm 2018, hoạt động cuối năm 2021.

Giai đoạn 2: Xây dựng bổ sung nhà máy điện công suất 1.000 MW, hoạt động cuối năm 2024.

Giai đoạn 3: Xây dựng bổ sung nhà máy điện khí công suất 1.200 MW, đi vào hoạt động năm 2027.

Tổng mức đầu tư dự án khoảng 91.400 tỷ đồng, tương đương 4 tỷ USD…

Phát biểu tại lễ ký kết, ông Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu đã giới thiệu với nhà đầu tư về định hướng phát triển các dự án năng lượng của tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, tỉnh đã tiến hành khảo sát vị trí, độ sâu để đặt kho nổi chứa khí theo yêu cầu của nhà đầu tư…

“Tỉnh Bạc Liêu sẽ tạo mọi điều kiện để nhà đầu tư thi công dự án cung cấp khí LNG và Nhà máy điện khí Bạc Liêu” – Ông Dương Thành Trung nhấn mạnh.

Đại diện nhà đầu tư, ông David Lewis, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Liên doanh đầu tư Energy Capital Việt Nam bày tỏ vui mừng khi được hợp tác xây dựng dự án điện khí trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Đóng điện Trạm biến áp 220 kV Đắk Nông

Vào lúc 22h05 ngày 29/4/2018, Ban Quản lý dự án các công trình điện miền Trung (CPMB) đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đóng điện Trạm biến áp 220 kV Đắk Nông.

220DakNong_020518.jpg

Trạm biến áp 220 kV Đăk Nông.

Dự án “Trạm biến áp 220 kV Đắk Nông” có tổng mức đầu tư 364 tỷ đồng do Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) làm chủ đầu tư, CPMB thay mặt EVNNPT quản lý điều hành dự án, Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) tiếp nhận quản lý vận hành khi công trình hoàn thành.

Công trình có quy mô:

1/ Xây dựng mới trạm biến áp 220 kV gồm 2 máy biến áp 220/110kV-125MVA; hệ thống phân phối 220 kV gồm 8 ngăn, giai đoạn này lắp đặt thiết bị cho 6 ngăn, dự phòng 2 ngăn; hệ thống phân phối 110 kV gồm 14 ngăn, giai đoạn này lắp đặt thiết bị cho 8 ngăn, dự phòng 6 ngăn.

2/ Xây dựng tuyến đường dây 2 mạch dài 1,1km đấu nối chuyển tiếp trên 1 mạch đường dây 220 kV Đắk Nông – Phước Long – Bình Long.

Trạm được xây dựng tại xã Nhơn Cơ, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Việc đóng điện Trạm biến áp 220 kV Đắk Nông sẽ góp phần tăng cường khả năng cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng cao khu vực tỉnh Đắk Nông; nâng cao độ an toàn, tin cậy, ổn định trong vận hành, chất lượng điện năng cho hệ thống điện khu vực, đồng thời hạn chế tổn thất công suất trong lưới điện truyền tải, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Đây là công trình chào mừng kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2018), 10 năm thành lập EVNNPT (1/7/2008 – 1/7/2018) và 30 năm thành lập CPMB (7/7/1988 – 7/7/2018).

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Vì sao điện gió chưa thể thay thế nhiệt điện than?

Theo đánh giá của các chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam, mặc dù tăng trưởng rất nhanh về công suất, nhưng sản lượng năng lượng gió (phong điện) chỉ chiếm 3% (khoảng 706 TWh/2014) trong tổng sản lượng điện của thế giới. Với Việt Nam, để giảm được 70 triệu tấn than phải nhập khẩu hàng năm, cần xây dựng khoảng 48,3GW công suất phong điện (bằng gần 1/3 công suất nguồn điện này của Trung Quốc). Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, chúng ta cần có công suất phong điện lớn hơn công suất của nhiệt điện than 3,25 lần. Tương tự, vốn đầu tư sẽ phải cao hơn 4,06 lần và giá điện sẽ tăng lên tương ứng (vì phong điện chỉ có thành phần “giá công suất”), vv… Và tránh trường hợp rã lưới, chúng ta cần khảo sát đánh giá khoa học có tính đến xác suất sự cố của các nguồn khác.

I – Tính khả thi về kỹ thuật củ​a phong điện

1/ Về kỹ thuật/công nghệ, phong điện là nguồn điện không ổn định (khó lường) nhất. Phong điện dựa trên cơ sở chuyển động của luồng không khí trong khí quyển ở gần bề mặt trái đất dưới tác động của mặt trời. Chuyển động của không khí trong khí quyển đến độ cao 2000m thuộc dạng hỗn loạn (turbulent flow). Hiện tượng hỗn loạn này càng gần bề mặt đất càng tăng. Để biến động năng của gió thành điện năng, con người hiện mới chỉ chinh phục được ở độ cao dưới 200m cách bề mặt đất.

Vì vậy, phong điện có “đầu vào” là gió thuộc hiện tượng rất “hỗn loạn”.

2/ Gần đây, nhờ các tiến bộ kỹ thuật, các tua bin gió có thể phát được điện ở tốc độ gió từ 3m/s trở lên và tự động ngừng phát điện khi tốc độ gió hơn 25m/s. Về lý thuyết, công suất phát của phong điện tỷ lệ bậc 3 với tốc độ của gió (tốc độ gió tăng/giảm 2 lần, công suất phát tăng/giảm 8 lần). Tốc độ gió thay đổi liên tục và “hỗn loạn” theo không gian và thời gian. Vì vậy, sản lượng phong điện sẽ thay đổi theo giờ, theo ngày, theo tháng, theo năm. Trong khi đó, như ta đã biết, độ chính xác trong dự báo về gió/bão hiện nay rất thấp. Vì vậy, sản lượng phong điện rất khó dự báo (trong khi sản lượng các nguồn nhiệt điện than, dầu, khí có thể xác định chủ động 100%).

Điều này rất quan trọng đối với công tác điều độ của hệ thống điện vì trong thực tế, nhu cầu sử dụng điện cũng thay đổi theo từng giờ trong ngày, theo ngày trong tuần, và theo tháng trong năm.

II – Tính khả thi về kinh tế của phong điện

1/ Nếu hoạt động độc lập (không nối lưới), phong điện (vốn đã bất định) sẽ không thể đáp ứng cho việc thay đổi của phụ tải, đòi hỏi phải đầu tư thêm các thiết bị chuyển đổi (convertor) và lưu trữ điện năng (ác quy). Chi phí đầu tư cho các thiết bị này có thể chiếm tới 50% tổng mức đầu tư. Vì vậy, suất đầu tư bình quân của phong điện khoảng 1000 U$/kW, cao hơn 25÷30% so với nhiệt điện than (suất đầu tư của nhiệt điện chạy than 750÷800 U$/kW).

2/ Nếu nối lưới (thường công suất lớn), phong điện sẽ đòi hỏi hệ thống điện quốc gia phải đầu tư thêm nguồn dự phòng (điện chạy than, khí, nguyên tử). Tỷ lệ nguồn điện dự phòng tăng thêm này trong hệ thống càng lớn, giá thành điện bình quân của cả hệ thống càng tăng.

3/ Thực tế cho thấy, do điều kiện xây dựng và thiết kế công nghệ bị hạn chế, công suất tổ máy của phong điện nhỏ so với nhiệt điện. Vì vậy, tính kinh tế của quy mô khi phát triển các nguồn phong điện không thể hiện rõ như các nguồn điện khác. Trên đất liền có thể xây dựng các trạm phong điện công suất lớn, việc đấu nối với hệ thống điện thuận tiện, nhưng tốc độ gió thường thấp. Ngoài khơi (biển) và trên vùng đồi núi cao có tốc độ gió lớn nhưng việc xây dựng các trạm phong điện công suất lớn rất khó khăn và chi phí đấu nối lớn.

4/ Đối với các trạm phong điện nhỏ, vấn đề đấu nối sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí. Đối với các trạm phong điện lớn, sửa chữa lại là vấn đề nan giải vì việc thay thế các chi tiết/phụ tùng có trọng lượng lớn (hàng trăm tấn) như cánh quạt, rotor, vv… ở độ cao vài chục mét đòi hỏi chi phí rất cao.

Ở Mỹ, theo số liệu của Earth Policy Institute chỉ ở 2 bang (Texas và Colorado) các dự án phong điện của Austin Energy và Xcel Energy có chi phí thấp hơn các nguồn điện truyền thống.

Trên thế giới, mặc dù chi phí xây dựng các trạm phong điện ngoài khơi đã giảm, nhưng chi phí phát điện vẫn ở mức cao, khoảng 125÷200 U$/MWh. Các hãng MHI-VestasSiemensDONG Energyđã ký một thỏa thuận nhằm giảm chi phí phát điện xuống còn 120 U$/MWh vào năm 2020.

5/ Đối với một số lĩnh vực sử dụng điện, khi vấn đề ổn định và liên tục trong cung cấp điện được đặt lên hàng đầu thì phong điện (và cả quang điện) sẽ hoàn toàn không đáp ứng được (không có khả năng cạnh tranh).

Tóm lại, về mặt kinh tế và kỹ thuật, bản thân hệ thống điện của tất cả các nước đều không sẵn sàng để tiếp nhận sự hòa lưới của bất kỳ trạm phong điện nào và bất kỳ một trạm phong điện nào nếu không hòa lưới thì cũng không thể cung cấp điện độc lập một cách ổn định và hiệu quả được. Vì vậy, tất cả các nước cần phải có các quy chế (đạo luật) riêng để điều chỉnh (áp đặt) việc đấu nối các nguồn phong điện vào lưới quốc gia.

III – Trên thế giới, phong điện phát triển nhanh nhưng tỷ trọng thấp, quy mô nhỏ

1/ Tốc độ phát triển của phong điện nhanh nhưng sản lượng chưa bằng điện hạt nhân. Trong vòng 16 năm, công suất phong điện đã tăng hơn 42 lần (xem đồ thị dưới đây). Năm 1997 tổng công suất phong điện trên toàn thế giới chỉ có 7,5 GW, đến năm 2013 là 318,5 GW. Tính đến đầu năm 2015, tổng công suất lắp đặt phong điện của 85 nước trên thế giới khoảng 369 GW và năm 2016 là 432 GW, lớn hơn tổng công suất lắp đặt của điện nguyên tử. Tuy nhiên, về sản lượng, điện nguyên tử lớn hơn 5 lần so với phong điện.

Mặc dù tăng trưởng rất nhanh về công suất, nhưng sản lượng của phong điện chỉ chiếm 3% (khoảng 706 TWh/2014) trong tổng sản lượng điện của thế giới (điện nguyên tử chiếm khoảng 15%).

2/ Loại tua bin phổ biến nhất có công suất 1,5÷2,5MW (năm 2009 chiếm 82%). Công suất tổ máy lớn nhất có tăng lên trong thời gian qua, nhưng chậm và nhỏ: Tua bin E-112 của hãng Enercon xuất hiện tháng 8/2002 có công suất 4,5MW; tháng 12/2004 hãng REpower Systems, Đức đưa vào vận hành tua bin công suất 5,0MW; Cuối 2005, Enecon tăng công suất lên 6MW, đường kính rotor-114m, chiều cao tháp 124m. Từ 2014, Vestas Đan Mạch đã thử nghiệm thành công và chế tạo tua bin V-164 công suất 8MW. Hiện tua bin được chế tạo có công suất lớn nhất là 10MW.

Trong khi đó, công suất tổ máy lớn nhất của nhiệt điện (than, nguyên tử) hiện nay đã đạt 1200÷1300MW. Như vậy, cần phải xây dựng ít nhất 120÷130 tua bin gió để thay thế cho 1 tổ máy phát nhiệt điện chạy than, hoặc nguyên tử.

3/ Thiết bị phong điện công suất đơn chiếc nhỏ nhưng thuộc loại siêu trường, siêu trọng. Ví dụ, tua bin 3MW (V-90) của Vestas Đan Mạch sản xuất có tổng chiều cao 115m, chiều cao tháp 70m và đường kính quay của cánh quạt 90m. Tua bin 5MW có chiều cao của tháp 120m, đường kính quay của rotor 126m và tổng trọng lượng tổ máy lên tới 200 tấn.

4/ Điều kiện thi công thường không thuận lợi: Vùng ven bờ (cách đất liền 10÷12km) được coi là có triển vọng nhất để xây dựng các trạm phát điện gần bờ vì chi phí đầu tư cao hơn 1,5÷2 lần so với trong đất liền, nhưng tốc độ gió cao. Các tháp gió được xây dựng trên các cọc được đóng sâu vào đáy biển khoảng 30m. Việc đầu nối với hệ thống trên bờ được thực hiện bằng cáp ngầm đặt dưới đáy biển. Vùng xa bờ có tốc độ gió cao, nhưng nước sâu, phải xây dựng các trạm phong điện nổi, có công suất nhỏ (nhẹ) nhưng chi phí rất cao. Các vùng núi cao cũng có tốc độ gió lớn, nhưng điều kiện thi công cũng rất khó khăn.

IV – Ở Việt Nam, phong điện chưa thể thay được nhiệt điện than

1/ Về giảm nhập khẩu than: Theo lý thuyết, cứ 1 MW công suất phong điện hoạt động liên tục trong 20 năm có thể thay thế được khoảng 29.000 tấn than, hoặc 92.000 thùng dầu mỏ (hàng năm 1 MW công suất phong điện có thể thay thế được 1.450 tấn than, hoặc 4.600 thùng dầu mỏ). Như vậy, để giảm được 70 triệu tấn than phải nhập khẩu hàng năm thì Việt Nam phải xây dựng khoảng 48,3 GW công suất phong điện (bằng gần 1/3 của Trung Quốc – nước đang dẫn đầu thế giới về phong điện)!

2/ Về nhu cầu vốn và giá điện: Thời gian vận hành bình quân hàng năm của nhiệt điện chạy than khoảng 6500h/năm, của phong điện khoảng 2000h/năm (mức bình quân toàn thế giới năm 2014 là 1913h). Như vậy, nếu để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Việt Nam sử dụng năng lượng của gió để thay thế năng lượng của than trong phát điện, thì công suất phong điện phải lớn hơn công suất của nhiệt điện than 3,25 lần.

Tương tự, vốn đầu tư sẽ phải cao hơn (3,25 x 1,25 =) 4,06 lần. Nếu “xã hội hóa”, giá điện sẽ phải tăng lên tương ứng (vì phong điện chỉ có thành phần “giá công suất”).

3/ Về tiến độ triển khai: Theo Quy hoạch điện, để đáp ứng nhu cầu điện của nền kinh tế đang ngày càng tăng, đến năm 2030, Việt Nam phải xây dựng và đưa vào phát điện bình quân khoảng 3,5GW/năm công suất nhiệt điện chạy than. Nếu thay thế than bằng sức gió, Việt Nam phải xây dựng các trạm phong điện với tổng công suất 11,4 GW/năm. Trong khi, cả thế giới trong vòng 19 năm (1997-2016) mới chỉ xây dựng được tổng số 432 GW (bình quân 22,7 GW/năm).

Như vậy, quy mô phát triển phong điện của Việt Nam hàng năm phải bằng ½ của thế giới. Điều này là không thể có.

4/ Về địa điểm xây dựng: Nếu sử dụng loại máy phát phong điện công suất lớn nhất hiện nay, mỗi năm Việt Nam phải xây dựng ít nhất khoảng 2300÷2500 “cối xay gió” ở Bình Thuận (trên đất liền) hay Cà Mau (ngoài khơi). Điều này là không thể xẩy ra vì không có chỗ để xây.

5/ Về tính an toàn của hệ thống: Đối với hệ thống điện của Việt Nam, nếu tỷ trọng về công suất đặt của phong điện trong hệ thống điện quốc gia đạt 20÷25% (cao hơn so với dự tính trong quy hoạch) sẽ dẫn đến nhiều bất ổn. Để tránh trường hợp rã lưới, cần khảo sát đánh giá khoa học có tính đến xác suất sự cố của các nguồn khác.

V – Các “cường quốc” về phong điện

1. Trung Quốc

Đứng đầu thế giới về phong điện. Theo số liệu công bố 8/2017, đến cuối 2016 tổng công suất phong điện của Trung Quốc (TQ) là 169 GW, chiếm 34% của toàn thế giới.

Năm 2014, sản lượng phong điện của TQ là 138 tỷ kWh/2014, chiếm tỷ trọng 2,6%. Chỉ trong năm 2015, TQ đã xây dựng 33 GW công suất phong điện mới – kỷ lục của thế giới. Sản lượng phong điện năm 2015 ở TQ là 186,3 tỷ kWh/2015, chiếm tỷ trọng 3,3%. Trong giai đoạn 2016÷2020, TQ dự kiến sẽ xây dựng thêm 100 GW phong điện.

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Khí hậu TQ (China Climate Science Research Institute), tiềm năng phong điện của TQ đạt 3.220 GW. Trong đó, tiềm năng kỹ thuật khoảng 1.000 GW, gồm 253 GW trong đất liền và 750 GW ngoài khơi.

Nội Mông là tỉnh có tiềm năng phong điện lớn nhất, chiếm 40% công suất phong điện của TQ. Đứng thứ hai là khu tự trị Tây Tạng.

Năm 2009, trạm phong điện ngoài khơi “Juwuba” được xây dựng ở Thượng Hải với công suất 100 MW, sản lượng 260 triệu kWh/năm, sử dụng 34 tua bin gió của hãng Sinovel công suất 3 MW mỗi chiếc. Đến 2013, tổng công suất phong điện ngoài khơi của TQ đạt 428,6 MW.

Tính đến 2005, TQ có 320 nghìn cột gió (phong điện nhỏ) với tổng công suất 65 MW (công suất bình quân hơn 203 W).

2. Mỹ

Trước đây, Pacific Northwest Laboratory đã đánh giá tiềm năng phong điện của 20 bang ở Mỹ tương đương với 10.777 tỷ kWh/năm (gấp 3 lần nhu cầu của cả nước Mỹ khi đó – năm 2001). Bang North Dakota được coi là “Ả Rập Xê Út về năng lượng gió” của Mỹ.

Theo nghiên cứu của National Renewable Energy Laboratory (NREL) vào năm 2010, tiềm năng phong điện ngoài khơi của Mỹ được đánh giá là 4.150 GW (năm 2008 tổng tiềm năng phong điện của Mỹ được đánh giá chỉ có 1.010 GW).

Phong điện của Mỹ là lĩnh vực phát triển tương đối nhanh. Năm 2008, Bộ Năng lượng Mỹ (DoE) đã đưa ra kế hoạch “20% Wind Energy” (đến 2030, tỷ trọng phong điện ở Mỹ phải đạt 20%). Năm 2014, đã có 34 bang sử dụng phong điện. Trong đó, 10 bang dẫn đầu (với tổng công suất lắp đặt 65,879 GW) gồm: Texas (14,098); Califonia (5,917); Iova (5,688); Окlahoma (3,782); Illinois (3,568); Оregon (3,153); Washington (3,075); Minnesota (3,035); Kаnsas (2,967); Colorado (2,593). Năm 2015 công suất lắp đặt tăng thêm 8,6 GW. Đến cuối 2015, tổng công suất lắp đặt đạt 74,5 GW (đứng thứ hai trên thế giới, sau Trung Quốc). Tỷ trọng phong điện chiếm 5% trong tổng sản lượng điện của Mỹ.

Giá thành phong điện công suất nhỏ ở Mỹ là 0,1÷0,11$/kWh (2006). Theo dự báo của Hiệp hội Năng lượng gió của Mỹ (AWEA), sau 5 năm giá thành phong điện nhỏ còn 7cents/kWh, và đến 2020, tổng công suất lắp đặt của phong điện nhỏ tăng lên 50 GW (cấp điện cho 15 triệu gia đình và 1 triệu doanh nghiệp nhỏ), chiếm 3% tổng công suất lắp đặt của cả nước. Những vùng có triển vọng phát triển phong điện nhỏ là những vùng có giá điện cao hơn 0,1$/kWh.

Các hãng cung cấp thiết bị phong điện chính ở Mỹ (2007) như sau:

TT Hãng Nước Số lượng tua bin, cái Tổng công suất, MW Công suất b/q, MW
1 GE Energy Mỹ 1561 2342 1.5
2 Vestas Dan Mạch 537 953 1.8
3 Siemens Đức 375 863 2.3
4 Gamesa Tây Ba Nha 242 484 2.0
5 Mitsubishi Nhật 356 356 1.0
6 Suzlon Energy Ấn Độ 97 197 2.0
Cộng 3188 5244 1.6

3. Đức

Đức là quốc gia đứng thứ ba trên thế giới về công suất lắp đặt và có tốc độ phát triển rất nhanh về phong điện. Năm 2006, sản lượng phong điện đạt 20,6 tỷ kWh (tương đương thủy điện – 21,6 tỷ kWh/2006), chiếm tỷ trọng 3,5%. Tổng nguồn thu liên quan đến phong điện là 7,2 tỷ Euro. Trong đó giá trị thiết bị phong điện là 5,6 tỷ Euro.

Theo đánh giá của Viện nghiên cứu Phong điện của Đức (DEWI), tỷ trọng thiết bị của Đức chiếm 50% trên thị trường phong điện thế giới năm 2007. Năm 2011, tỷ trọng phong điện tăng lên 8%. Năm 2014, ở Đức có 24.867 tua bin gió với tổng công suất 38,116 GW và sản lượng phong điện chiếm tỷ trọng 8,6%. Năm 2015, tổng công suất lắp đặt phong điện của Đức là 44,9 GW, chiếm 8% tổng công suất phát điện của cả nước.

Từ 2007, các công ty lưới điện đã phải trả tiền mua điện cho các chủ cối xay gió với giá 0,0836/kWh trong vòng 5 năm đầu, sau đó mỗi năm giá mua giảm 2%.

Tua bin gió ngoài khơi đầu tiên (hãng Nordex AG) có công suất 2,5 MW, đường kính cánh 90m, đường kính móng 18m, tổng chiều cao 125m được xây dựng từ 2006 ở khu vực có độ sâu 2m, cách bờ biển Vostok 500m. Móng tua bin được xây bằng 500 tấn bê tông, 550 tấn cát và 100 tấn thép.

Dự kiến đến 2030, Đức sẽ xây dựng 25 GW công suất phong điện ngoài khơi biển Ban tích và Biển Bắc.

VI – Tóm lại

Phong điện là nguồn năng lượng tái tạo, sạch, nhưng rất bất định vì phụ thuộc vào thiên nhiên. Trong hệ thống điện quốc gia, tỷ trọng của phong điện cao sẽ gây bất ổn trong vận hành và đòi hỏi phải xây thêm công suất phát điện dự phòng từ các nguồn khác. Điều này làm tăng đáng kể giá điện.

Trên thế giới, phong điện đang có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng chưa thể thay thế được nhiệt điện (than, dầu, khí) về quy mô (về sản lượng) và về giá. Ở Việt Nam, mức độ phát triển phong điện phụ thuộc vào sức mua điện của các ngành kinh tế và cơ chế hỗ trợ về giá của Chính phủ.

Trong dự báo về phát triển năng lượng của thế giới đến 2035, Viện nghiên cứu Năng lượng của Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã kết luận: (i) Nguồn năng lượng tái tạo có xu hướng tăng trưởng; nhưng, (ii) chưa thể cạnh tranh được với than và khí; và, (iii) phụ thuộc vào sự bảo trợ của nhà nước.

TS. NGUYỄN THÀNH SƠN – HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Chuẩn bị vận hành thương mại Nhiệt điện Vĩnh Tân 1

Ông Phan Ngọc Cẩm Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Tân 1 cho biết: dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 sẽ về đích trước kế hoạch gần 1 năm so với cam kết của Chính phủ, trong đó, tổ máy số 1 sẽ sớm hơn 5 tháng, tổ máy số 2 sẽ sớm hơn 6 tháng.

Theo ông Phan Ngọc Cẩm Thành, sau 1.025 ngày liên tục làm việc trên tinh thần an toàn, đảm bảo môi trường và chất lượng, hiện tại tổng khối lượng công trình của dự án đã hoàn thành trên 93%.

Ngày 18/4/2018, tổ máy số 1 đã hòa lưới thành công ngay từ lần đầu với kế hoạch vận hành thương mại vào tháng 7/2018.

Dự án nhà máy BOT Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, có công suất 1.240 MW, tổng mức đầu tư 1.755 tỷ USD được khởi công xây dựng từ tháng 7/2015. Đây là dự án nhiệt điện đầu tiên sử dụng công nghệ lò hơi siêu tới hạn đốt than phun sử dụng than antraxit Việt Nam.

Dự án do Công ty TNHH Lưới điện Phương Nam Trung Quốc, Công ty TNHH Điện lực quốc tế Trung Quốc và Tổng Công ty Điện lực (Vinacomin) góp vốn đầu tư, với tỷ lệ đóng góp cổ phần tương ứng là: 55%, 45% và 5%.

Mới đây, tại buổi làm việc với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, ông Trương Đàm Chí, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Lưới điện Quốc tế Phương Nam kiêm Chủ tịch Công ty BOT Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 cũng cho biết, dự án dự kiến sẽ vượt tiến độ khi hoàn thành sớm hơn 11 tháng so với tiến độ cam kết với Chính phủ Việt Nam.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Đóng điện kháng bù ngang tại các TBA 500 kV Pleiku 2 và Đắk Nông

Vào lúc 19h40 ngày 25/4/2018 và lúc 01h04 ngày 27/4/2018, tại Trạm biến áp (TBA) 500 kV Pleiku 2 và TBA 500 kV Đắk Nông, Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đóng điện đưa vào vận hành an toàn các kháng điện bù ngang 500kV-128MVAr KH594 và KH503.

KhangPTC3_280418_1.JPG

Kháng 500kV-128MVAr tại TBA 500 k​V Pleiku 2.

Đây là 2 trong 6 kháng điện thuộc dự án “Trang bị kháng điện bù ngang trên lưới 500 kV” do Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) đầu tư, có quy mô lắp đặt 6 kháng điện 500kV-128 MVAr và các thiết bị liên quan đấu nối vào hệ thống thanh cái 500 kV tại 6 TBA 500 kV Cầu Bông, Sông Mây, Di Linh, Đắk Nông, Pleiku 2 và Vũng Áng.

Việc đóng điện đưa vào vận hành thành công các kháng điện bù ngang KH594 tại TBA 500 kV Pleiku 2 và KH503 tại TBA 500 kV Đắk Nông đã phát huy hiệu quả ngay lập tức. Điện áp tại thanh cái 500 kV của TBA 500 kV Pleiku 2 và TBA 500 kV Đắk Nông luôn giữ ổn định trong phạm vi cho phép.

Khi dự án hoàn thành sẽ góp phần nâng cao tính linh hoạt trong việc điều chỉnh điện áp hệ thống điện, nâng cao khả năng vận hành an toàn, ổn định, tin cậy, giảm tổn thất hệ thống, tăng khả năng truyền tải trên các cung đoạn đường dây 500 kV, đảm bảo chất lượng điện năng phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Việc hoàn thành công trình là thành tích thiết thực của CBCNV Công ty Truyền tải điện 3 chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (1/7/2008 – 1/7/2018).

Trước đó, vào ngày 22/3/2018, kháng bù ngang 500kV-128MVAr tại TBA 500 kV Di Linh đã được đóng điện đưa vào vận hành an toàn.

TRỊNH VĂN HẢI

Phụ tải tăng cao và giải pháp của EVNHANOI

Theo Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội (EVNHANOI), mặc dù chưa bước vào cao điểm mùa khô 2018, tuy nhiên sản lượng điện thương phẩm tháng 4 tăng 6,98% so với cùng kỳ 2017. Để đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định, EVNHANOI đang khẩn trương hoàn thiện các công trình đảm bảo cấp điện mùa khô và các tháng cao điểm mùa hè 2018.

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng – thủy văn Trung ương, tình hình thời tiết năm 2018 sẽ diễn biến phức tạp, nắng nóng có xu hướng tăng cao kèm theo đó là nhu cầu sử dụng điện của khách hàng cũng sẽ tăng.

Khẩn trương hoàn thiện, đưa các công trình vào vận hành theo đúng kế hoạch.

Trước tình hình đó, EVNHANOI đã chủ động lập phương án cấp điện và phương thức vận hành hệ thống điện hiệu quả, đặc biệt là trong các tháng mùa khô và các tháng hè 2018 để đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định phục vụ khách hàng trên địa bàn Thủ đô.

Ngay từ đầu năm, Tổng công ty đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, khẩn trương hoàn thiện, đưa các công trình vào vận hành theo đúng kế hoạch nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế – xã hội và đời sống của nhân dân.

Mặc dù chưa bước vào cao điểm mùa khô 2018, tuy nhiên sản lượng điện thương phẩm tháng 4 ước đạt 1.335 triệu kWh, tăng 6,98% so với cùng kỳ 2017. Để đảm bảo cung cấp điện trong mùa khô 2018, đến hết tháng 4/2018 Tổng công ty đã khởi công xây dựng 4 công trình lưới điện 220kV, 110kV và 139 công trình lưới điện trung hạ thế và đầu tư khác.

Bên cạnh đó, EVNHANOI đã đóng điện công trình xây dựng tuyến đường dây 110kV từ TBA 220kV Long Biên đấu nối vào đường dây 110kV Đông Anh – Gia Lâm – Sài Đồng và đóng điện công trình xây dựng tuyến đường dây 110kV từ TBA 500/220kV Tây Hà Nội (Quốc Oai) đấu nối vào đường dây 110kV Chèm – Phúc Thọ; đóng điện máy biến áp T2 tại trạm biến áp 110kV Từ Liêm”…

Đối với các công trình lưới điện trung hạ thế, Tổng công ty đã hoàn thành 67 công trình với năng lực tăng thêm 257 MBA; 145,5MVA, 282,5km dây dẫn trung thế, 330,1km dây dẫn hạ thế. Toàn Tổng công ty đã thi công xong 51 công trình thuộc hạng mục sửa chữa lớn.

Dự kiến trong mùa khô năm 2018, nhu cầu phụ tải cao các đơn vị trong toàn Tổng công ty đang nỗ lực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành sớm các công trình đang triển khai để đưa vào phục vụ vận hành đề phòng thời tiết nắng nóng bất thường, tăng cường công tác kiểm tra, tuần canh, giám sát, xây dựng các kịch bản cấp điện, tổ chức diễn tập xử lý các tình huống sự cố giả định, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng đề phòng khi có sự cố xảy ra.

Thời tiết nắng nóng sẽ gây nhiều bất lợi cho việc đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục phục vụ khách hàng trên địa bàn Thủ đô. EVNHANOI khuyến cáo tới quý khách hàng hãy sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả bằng những việc làm cụ thể như tắt bớt các thiết bị điện không cần thiết, hạn chế sử dụng các thiết bị điện cùng 1 lúc vào giờ cao điểm.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Sàn Grating được sản xuất trên dây chuyền hiện đại tiên tiến nhất

Sàn grating được ra đời với chế tạo ứng dụng lắp đặt cho trong những vị trí trong nhà máy công nghiệp như sàn thao tác, bậc cầu thang, rãnh thoát nước, hầm cáp,… Các sản phẩm Grating do xây dựng gia vũ cung cấp trên hệ thống máy móc tiên tiến, đảm bảo chắc khoẻ và bền đẹp.

Qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, công ty không ngừng lớn mạnh và mở rộng thị trường. Công suất chế tạo các loại nắp mương, nắp bể cáp…. 2.000 tấn/năm, hệ thống cung cấp sản phẩm rộng tại các Tỉnh và Thành phố trong cả nước.

 

Sản phẩm của chúng tôi đã từng sản xuất nhiều cung cấp cho các dự án trong nước như các dự án xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy phong điện, nhà máy đạm, nhà máy đóng tàu, nhà ga sân bay, các công ty dầu khí…….

Để cung cấp ra sản phẩm tốt nhất công ty chúng tôi phải đầu tư máy móc để sản xuất tấm sàn grating bằng phương pháp thủ công cực kỳ đơn thuần chỉ một vài máy dập khoảng 50 tấn tới 100 tấn cộng mang 2 máy hàn Hồ Quang hoặc máy hàn Mig, 1 máy tạo thanh xoắn. Mức giá đầu tư ban đầu để cung ứng tấm Grating vào khoảng 100 triệu VNĐ cho tới 150 triệu VNĐ là đủ.

Dựa trên quy trinh chế tạo tấm grating bán tự động mà bề ngoài cho tự động, thế mạnh của dây chyền tự động là tăng năng xuất, giảm nhân công, chủ động tiến độ.

Cung ứng tấm sàn Grating bằng bí quyết máy móc có ưu thế tính thẩm mỹ của grating, độ bền ổn định, hạn chế được phần lớn nhân công.

Tấm sàn grating được chế tạo từ các lá thép có độ dày từ 2 đến 12 mm, chiều cao từ 20 đến 150 mm, được hàn lên kết với nhau bằng những thanh thép xoắn tròn hoặc các thanh la thép. Sau khi gia công hàn xong, tấm sàn grating được vệ sinh sạch sẽ và đem đi mạ kẽm nhúng nóng, cho nên có thể chịu được sự ăn mòn hóa học, ăn mòn điện phân trong môi trường ẩm ướt được dùng chủ yếu trong các nhà máy chế biến hải sản, chế biến lương thực, thực phẩm, nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, các loại mương thu nước trong các nhà máy và các khu công nghệp, các ga ra ô tô..

Hiện nay kích thước và mẫu mã tấm sàn grating và sàn thép grating của Xây Dựng Gia Vũ được sản xuất theo yêu cầu của khách hàng hoặc chủ đầu tư. Hiện nay có rất nhiều đơn vị sản xuất tấm grating, cho nên được có được những sản phẩm grating chất lượng nhất quý khách nên liên hệ với chúng tôi để tìm hiểu kỹ về thông tin sản phẩm cũng như nhà cung cấp để có được sản phẩm tốt nhất, giá thành rẻ.

Ngoài ra chúng tôi còn sản xuất và cung cấp các sản phẩm dây kẽm gai, dây thép gai làm hàng rào bảo vệ trong các công trình dân sinh , những trang trại hoặc trong lĩnh vực an ninh quốc phòng . Nó  bào vệ con người , bảo vệ những công trình dân sinh , nó còn có tác dụng đề làm rào cản , làm vật ngăn cách giữa các khu ..vv.

Tấm sàn grating chất lượng cao trên thị trường

Tấm sàn grating hiện nay ở trên thị trường xuất hiện rất nhiều do có nhiều nhà máy , đơn vị sản xuất  ngày càng phát triển và nhiều . Nhưng  để đạt được một sản phẩm tốt không phải dễ dàng vì độ khó của nó rất cao  , ít có đơn vị nào gia công đạt được đúng tiêu chuẩn.

Vốn gia công rất khó nên muốn tạo ra được nó đúng tiêu chuẩn thì cần phải có trình độ kĩ thuạt cao và khoãng thời gian khá giàn , đủ để sản xuất ra nó . Và công ty chúng tôi sau nhiều năm nghiên cứu và áp dụng công nghệ cao đã sản xuất ra tấm đan grating chất lượng đạt đúng yêu cầu.

Tấm grating bản mặt cầu  được chế tạo từ các lá thép có độ dày 2,5mm, cao 30mm, bước nan 30mm, kích thước phổ biến 1000x1500mm, 1000x2000mm…liên kết ngang bằng thép vuông xoắn 6×6 chịu lực, khoảng cách giữa các thanh xoắn 100mm.

Sản phẩm của chúng tôi sau khi được gia công  còn được mạ một lớp kẽm chống oxy hóa , ăn mòn v2 mọi tác động thời tiết bên ngoài . Với nhữn yếu tố  đó sản phẩm cũa chúng tôi đã trở thành mặt hàng chất lượng và có chỗ đứng vững chắc hơn trên thị trường .

Được khách hàng đánh giá cao bởi chất lượng tấm grating bản mặt cầu cũng như thái độ làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc chúng tôi cam kết:

– Thi công mẫu mã đảm bảo đẹp và đúng chi tiết bản vẽ.

– Đảm bảo tiến độ làm việc.

Hình thức thanh toán linh hoạt, giá cả thỏa thuận hợp lý đảm bảo thuận lợi trong quá trình hợp tác giữa hai bên.

Ngoài tấm sàn grating công ty chúng tôi còn cung cấp nhiều sản phẩm khác như; nắp mương, kẽm gai , tấm đan . tấm đan thép … chất lương .

Nếu có nhu cầu sử dụng hãy liên hệ với công ty chúng tôi qua  website sd668.vn để được cung cấp các sản phẩm .

Thị trường thiết bị điện Việt Nam: Mảnh đất màu mỡ

Theo đánh giá của Panasonic, thị trường thiết bị điện của Việt Nam có tiềm năng rất lớn và là mảnh đất màu mỡ cho không ít các doanh nghiệp nước ngoài.

Ông Takashi Ogasawara, lãnh đạo đơn vị kinh doanh thiết bị điện củaPanasonic đã có những chia sẻ với phóng viên Đài truyền hình Việt Nam tại Nhật Bản về cơ hội đầu tư tại thị trường Việt Nam

PV Đức Cường: Xin ông cho biết lý do Panasonic xây dựng nhà máy cung cấp thiết bị điện đầu tiên tại Việt Nam?

Ông Takashi Ogasawara: Cho đến nay những thiết bị điện bán tại Việt Nam của Panasonic đều được nhập từ Thái Lan, tuy nhiên, tỷ lệ tăng doanh thu của chúng tôi ở Việt Nam những năm gần đây vượt xa so với Thái Lan, đạt tới 140% một năm.

Nhu cầu rất lớn tại thị trường Việt Nam khiến nguồn nhập khẩu từ Thái Lan không đáp ứng kịp, điều này thúc đẩy chúng tôi sản xuất ngay tại Việt Nam. Lý do thứ hai là chúng tôi nhận thấy thị trường nội địa Việt Nam rất thiếu các thiết bị điện chất lượng tốt và an toàn. Chúng tôi có thể cung ứng các sản phẩm đạt chuẩn chất lượng cho khách hàng tại Việt Nam.

PV Đức Cường: Khi hoạt động tại Việt Nam, Panasonic có gặp khó khăn gì không?

Ông Takashi Ogasawara: Chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn về tỷ giá hối đoái vì tiền đồng mất giá so với USD, do đó, chúng tôi phải trả rất nhiều tiền cho các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài. Hiện nay, chúng tôi có rất ít các nhà cung cấp nguyên liệu, thiết bị trong nước, tỷ lệ thiết bị được cung ứng ngay tại Việt Nam có lẽ chỉ đạt vài phần trăm.

PV Đức Cường: Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Xin ông cho biết về chiến lược kinh doanh của Panasonic tại Việt Nam trong những năm tới?

Ông Takashi Ogasawara: Tình hình kinh tế đang rất khó khăn, tuy nhiên, Việt Nam cũng có nhiều lợi thế, đó là dân số trẻ và thị trường tăng trưởng nhanh. Chúng tôi đánh giá Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển. Chúng tôi có kế hoạch sẽ mở rộng thêm quy mô sản xuất để có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường. Lúc đầu, chúng tôi chỉ muốn tuyển 450 lao động nhưng nhà máy làm không hết việc nên đã phải tăng lên thành 670 người. Trong những năm tới, chúng tôi sẽ đầu tư 200 đến 300 triệu yên/năm cho thị trường thiết bị điện tại Việt Nam.

Một điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là chất lượng lao động mà chúng tôi tuyển dụng được rất tốt. Điều này đã giúp nhà máy vận hành rất hiệu quả.

PV Đức Cường: Xin cảm ơn ông!

Khánh thành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương II

Ngày 26/10 tại Hà Nội, Công ty TNHH Điện lực AES-TKV Mông Dương (AES Mông Dương) đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Nhiệt điện BOT Mông Dương 2 (công suất 1.240 MW). Đây là nhà máy nhiệt điện BOT đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam, với 2 tổ máy có tổng công suất 1.240 MW, được xây dựng tại TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: MH

Tới dự buổi lễ có Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Jun Dae Joo, đại diện các bộ, ban, ngành, địa phương.

Về phía Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải tham dự.

Phát biểu tại buổi lễ, ông David Stone – Giám đốc điều hành của AES Mông Dương cho biết, dự án Nhiệt điện Mông Dương 2 được khởi công vào tháng 12/2010, có tổng mức đầu tư khoảng 2,1 tỷ đô-la Mỹ. Dự án được xây dựng theo hình thức Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), sẽ được chuyển giao cho Chính phủ Việt Nam sau 25 năm vận hành.

Từ tháng 4/2015, nhà máy đã đi vào vận hành thương mại, hoàn thành tiến độ trước 6 tháng. Tới nay, Nhiệt điện Mông Dương 2 đã phát được hơn 4 triệu kWh kể từ ngày hòa đồng bộ vào lưới điện quốc gia. Dự kiến, Nhà máy sẽ sản xuất khoảng hơn 7,6 tỷ kWh mỗi năm.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cho biết, theo Quy hoạch điện VII, tổng công suất nguồn điện than xây dựng mới tới năm 2020 sẽ đạt khoảng 36.000 MW, chiếm 46% tổng công suất nguồn điện trên toàn quốc. Để đạt mục tiêu trên, ngoài EVN là đơn vị đóng vai trò chủ lực trong đầu tư, phát triển nguồn điện tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam ban hành nhiều chủ trương, chính sách, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia xây dựng nguồn điện.

Thứ trưởng cũng chỉ đạo, AES Mông Dương phải vận hành nhà máy an toàn, theo đúng kế hoạch, lưu ý các biện pháp xử lý tro, xỉ, đảm bảo môi trường.

Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 2:

Chủ đầu tư: Công ty TNHH AES Mông Dương (được thành lập bởi các công ty thành viên của Tập đoàn AES- Mỹ, Posco Energy – Hàn Quốc, Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc CIC).

Quy mô: 2 tổ máy với tổng công suất 1.240 MW

Địa điểm: Phường Mông Dương, TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Tổng mức đầu tư dự án: Khoảng 2,1 tỷ đô-la Mỹ

Khởi công: Tháng 12/2010, vận hành thương mại từ tháng 4/2015.

Dự án xây dựng theo hình thức BOT, sẽ chuyển giao cho Chính phủ Việt Nam sau 25 năm vận hành.